Home / Review sách / Review sách Cuộc Cách Mạng Một – Cọng – Rơm

Review sách Cuộc Cách Mạng Một – Cọng – Rơm

Cuộc Cách Mạng Một – Cọng – Rơm
Tác giả: Masanobu Fukuok

Đôi nét về tác giả:
Masanobu Fukuoka (1913 – 2008)  là một nông dân và triết gia người Nhật Bản được tôn vinh vì sự canh tác tự nhiên và tái tạo thảm thực vật của vùng đất sa mạc

Giới thiệu sách:
“Cuộc Cách Mạng Một – Cọng – Rơm” là cuốn sách nổi tiếng của Masanobu Fukuoka, người khai sinh nông nghiệp tự nhiên của Nhật Bản và thế giới. Cuốn sách (đã được dịch ra 25 thứ tiếng) không chỉ là sự trải nghiệm về cách thức nuôi trồng các sản phẩm nông nghiệp trong sự tương tác hài hòa với môi trường tự nhiên mà còn đem đến cho người đọc những suy tưởng thú vị về triết học, về ăn uống, về y học và cuộc sống.

Có thể gọi ông Masanobu Fukuoka, tác giả cuốn sách, là người nông dân vĩ đại nhất hành tinh cũng không có gì là lạm dụng từ ngữ. Ông là người đạt đến cảnh giới vô vi trong nông nghiệp và là vị sư tổ của nông nghiệp tự nhiên.

Nhưng bạn không nên để tựa đề cuốn sách đánh lừa. “Cuộc cách mạng một – cọng – rơm”, nhưng chẳng có “cuộc cách mạng” nào ở đây cả. Cuốn sách chỉ là những ghi chép của một người làm nông khiêm nhường rón rén trước thiên nhiên vườn ruộng, như thể mỗi một từ được viết ra tác giả đều sợ làm tổn thương đất đai cây cỏ.

Bạn cũng sẽ thất vọng nếu có ý định tìm trong cuốn sách này những tri thức về nông nghiệp, dù là nông nghiệp hữu cơ hay nông nghiệp tự nhiên. Bởi vì đối với ông Fukuoka, tri thức là hữu hạn, còn thiên nhiên cây cối là vô cùng, cái hữu hạn không thể thâu tóm được cái vô cùng.

Cuốn sách cũng không nhằm góp phần làm đa dạng hóa kiến thức của bạn về thiên nhiên và cuộc sống. Bạn sẽ thấy tác giả của nó không hề có ý định như vậy.

Trong kho tàng sách vở của nhân loại, trừ cuốn Pháp bảo đàn kinh của Lục tổ thiền tông Huệ Năng, hiếm có cuốn sách nào như cuốn sách này, khi mà tác giả không hướng người đọc theo tư tưởng và quan niệm của người viết sách mà hướng người đọc vào chính bản thân họ trong mối quan hệ tương tác với môi trường sinh ra và nuôi dưỡng họ.

Viết về nông nghiệp nhưng ông Fukuoka không để người đọc dính mắc vào các kiến thức trồng trọt và chăn nuôi, cũng không dính mắc vào chính cuốn sách của ông. Người ta bảo phương pháp Fukuoka là thiền trong nông nghiệp là vì vậy.

Đọc cuốn sách này và gấp nó lại, bạn sẽ không còn nghĩ ông Fukuoka đã viết những gì, nhưng bạn sẽ nhận ra vô số những điều mà trước đây do những tri thức học ở sách vở, trong trường lớp đã biến thành định kiến trong đầu bạn khiến cho bạn không nhận ra. Bạn sẽ nhìn cái cây không phải là giống thực vật vô tri được mô tả trong sách trồng trọt mà là cái cây có tâm hồn. Bạn sẽ thú vị nhớ lại, trong câu chuyện cổ tích Một người mẹ, nhà văn Andersen đã từng bảo mỗi một cái cây đều có một số phận, mỗi cái cây đều có một trái tim. Và bạn sẽ hiểu vì sao ông Fukuoka lại nói chỉ có những đứa trẻ mới nhìn được thiên nhiên như thiên nhiên vốn có.

Review sách:
Cuộc Cách Mạng Một – Cọng – Rơm như một cuốn nhật ký của Masanobu Fukuoka giúp chúng ta thêm yêu thiên nhiên đất trời ban tặng. Một nền nông nghiệp như thế nào mới là một nền nông nghiệp bền vững, chịu đựng được tất thảy những thử thách khắc nghiệt của thời gian? Với việc khởi xướng triết lý làm nông tự nhiên, thuận theo tự nhiên, Masanobu Fukuoka đã trở thành người nông dân được thế giới biết đến nhiều nhất. Những trải nghiệm với nghề nông, cùng những suy tư của ông về thực phẩm, về y học, về cuộc sống được trình bày giản dị qua tác phẩm Cuộc Cách Mạng Một – Cọng – Rơm.

Đề xuất việc nuôi trồng các sản phẩm nông nghiệp trong sự tương tác hài hòa với môi trường tự nhiên, trong suốt cuốn sách của mình, Masanobu Fukuoka trình bày những minh họa cụ thể của việc làm nông và khéo léo lồng ghép vào đó những triết lý sống hài hòa, dung dị. Ông So sánh giữa nông nghiệp hiện đại (dựa trên cách mạng xanh) và nông nghiệp tự nhiên

Trong đó, nông nghiệp hiện đại sử dụng hoá chất, phân bón, cơ giới hoá ruộng đồng, dùng các loại giống được biến đổi. Lợi ích ngay trước mắt là tăng nhanh về sản lượng trong thời gian ngắn, đáp ứng nhu cầu của con người. Hậu quả là nông sản ngày càng giảm chất lượng( hết ngon, hết bổ) và độc hơn( do dùng nhiều hoá chất). Đất thoái hoá, môi trường ô nhiễm. Cây trồng chống chịu kém. Người nông dân bận bù đầu bù cổ và càng lệ thuộc vào các tập đoàn hoá chất và giống.

Đối với nền nông nghiệp tự nhiên
Ông đề ra bốn nguyên tắc để tạo ra thực phẩm sạch: Không cày xới đất; Không dùng phân hóa học hoặc phân ủ;  Không làm cỏ bằng việc cày xới hoặc thuốc diệt cỏ; Không phụ thuộc vào hóa chất.

Cách làm nông của ông thoạt nghe có vẻ lý tưởng với những người lười biếng. Tuy nhiên, nếu ai đó muốn đi theo con đường của Fukuoka, họ sớm nhận ra rằng việc trở thành một nhàn nông là một con đường nhiều thử thách mà kẻ gây cản trở lớn nhất là nội tâm của mỗi người. Việc đầu tiên mà người ta phải học, đó là sự kiên nhẫn.

Họ cần biết rằng mọi thứ trên đời đều có chu kỳ phát triển, vòng đời và giới hạn khả năng. Họ phải học cách chấp nhận tự nhiên không có thiện ác, tốt và hại. Họ buộc phải đợi, buộc phải quan sát, buộc phải thất bại, buộc phải hiểu rằng sự tự nhiên đã có sự bền vững vĩnh hằng của nó. Chúng ta trở thành nông dân không phải là để chinh phục tự nhiên như ngộ nhận của nhiều người, trái lại, là để học từ tự nhiên và vay mượn từ đó lương thực cho mình, rồi phải trả lại cho tự nhiên cơ hội phát triển tiếp. Chính ở đó, tư tưởng của Fukuoka vượt ra khỏi giới hạn của một ngành nghề. Ông nhắc nhở tất cả mọi người, dù họ đang sống ở đâu, đang làm việc gì, về sự tồn tại như một sinh thể gắn với tự nhiên của họ.

Sự khủng hoảng của nông nghiệp, cũng như sự khủng hoảng của một cá nhân, bắt nguồn từ việc chúng ta có quá nhiều tham vọng và mong muốn điều khiển mọi thứ phục vụ tham vọng ấy. Và cốt lõi của sự “vô canh” trong nông nghiệp, cũng như sự tồn tại của cá nhân, chính là việc hiểu được giá trị và vị trí của mọi điều tồn tại trong thế giới và hiểu đâu chính là sự “đủ” của mình

Người ta đã mệnh danh Masanobu Fukuoka là “vị sư tổ của nông nghiệp tự nhiên” bởi ông đã ý thức rõ về sự vĩ đại của mẹ thiên nhiên và vị trí “con cái” của loài người. Masanobu Fukuoka hiểu rằng sinh thái tự nhiên là trung tâm của cuộc sống thường hằng này chứ không phải con người là trung tâm như bấy lâu nay người ta mặc nhiên quan niệm. Trong diễn trình hoàn thiện bản thân, con người vẫn khó lòng tách khỏi tự nhiên một cách duy ý chí. Nếu thật lòng mưu cầu một cuộc sống bền vững, an yên, con người cần lắm thái độ lương theo quy luật của tự nhiên đất trời, xem tự nhiên là bè bạn thiết thân chứ không phải là đối tượng để chinh phục, chiếm hữu.

“Cuộc Cách Mạng Một – Cọng – Rơm”  một cuốn sách dành cho tất cả mọi người, những ai đang truy tìm phương thức sống trở về với bản nguyên sinh thái tự nhiên của con người.

Trích đoạn hay:
Đâu là thực phẩm dành cho con người

Một ngày nọ, có người từ đài truyền hình NHK đến và yêu cầu tôi nói vài điều về vị ngon của thực phẩm tự nhiên. Chúng tôi nói chuyện, và tôi yêu cầu anh ta so sánh giữa trứng gà nuôi trong chuồng dưới đất thấp với trứng gà thả chạy tự do trong vườn trên núi. Anh ta thấy rằng lòng đỏ trứng của gà bị nhốt trong trại nuôi thông thường thì mềm và loãng, có màu vàng nhợt còn lòng đỏ trứng gà sống tự do trên núi thì chắc, đàn hồi và có màu cam sáng. Khi ông gà, chủ một cửa hàng sushi trên thị trấn, nếm thử một trong các quả trứng tự nhiên này, ông ta nói đây mới là “trứng thật,” y như hồi xưa, và ông ta hân hoan như thể nó là báu vật.

Lại nữa, ở trên vườn quýt có nhiều loại rau khác nhau mọc xen giữa đám cỏ dại và cỏ ba lá. Củ cải, ngưu bàng, dưa chuột, bí, đậu phộng, cà rốt, những cây hoa cúc ăn được, khoai tây, hành, cải cay, cải bắp, vài giống đậu, và nhiều loại rau cỏ khác tất cả đều cùng nhau chung sống. Cuộc nói chuyện chuyển sang vấn đề liệu các loại rau kể trên, được trồng kiểu bán hoang dã như vậy, có vị ngon hơn những loại được trồng trong vườn nhà hoặc có sự trợ giúp của phân bón hoá học khi trồng ở trên ruộng hay không. Khi chúng tôi đem so sánh chúng với nhau, thì thấy mùi vị rất khác biệt, và chúng tôi xác định rằng các loại rau “hoang dại” có hương vị phong phú hơn.

Tôi bảo với người phóng viên đó rằng khi rau củ được trồng trên ruộng đã chuẩn bị sẵn, sử dụng phân bón hoá học (NPK), thì chúng được cung cấp nitơ, phốt-phát và kali. Nhưng khi rau củ được trồng trên nền đất tự nhiên với lớp đất mặt giàu chất hữu cơ, chúng sẽ có được một chế độ dinh dưỡng cân bằng hơn. Sự có mặt của nhiều loại cây cỏ hoang dại đồng nghĩa với một lượng phong phú các đa chất và vi chất dinh dưỡng thiết yếu có sẵn để cung cấp cho rau củ. Cây cối sinh trưởng trong lớp đất thịt cân bằng như vậy sẽ có hương vị tinh tế hơn.

Các loại thảo mộc ăn được, rau dại, cây cối mọc trên núi và trên đồng cỏ có giá trị dinh dưỡng rất cao và cũng có tác dụng làm thuốc. Thực phẩm và thuốc không phải là hai thứ khác nhau: chúng là mặt trước và mặt sau của một cơ thể. Những thứ rau củ nuôi bằng chất hoá học có thể dùng làm thực phẩm để ăn, nhưng chúng không thể dùng làm thuốc được.

Khi ta đi tìm hái và ăn bảy loại thảo dược mùa xuân tinh thần ta trở nên thư thái. Còn khi ăn chồi dương xỉ, cây vi và rau tề thái ta sẽ trở nên điềm tĩnh. Để giảm cảm giác bồn chồn, nôn nóng thì dùng rau tề thái là tốt nhất. Người ta nói rằng nếu trẻ con ăn rau tề thái, chồi liễu hoặc những con côn trùng sống trên cây thì sẽ chữa được những cơn khóc lóc bộc phát, và hồi xưa bọn trẻ con thường bị bắt phải ăn. Daikon (củ cải Nhật) có tổ tiên là một loại cây gọi là nazuna (rau tề thái), từ nazuna này có liên quan với từ nagomu, có nghĩa là làm dịu đi. Daikon là loại “thảo dược làm mềm dịu tính khí con người.”

Trong số các loại thức ăn hoang dã thì côn trùng thường không được ngó ngàng tới. Trong thời gian chiến tranh, lúc còn làm việc ở trung tâm nghiên cứu, tôi được phân công xác định xem những loại côn trùng nào ở khu vực Đông Nam Á là có thể ăn được. Khi điều tra về chuyện này, tôi kinh ngạc khi khám phá ra rằng hầu như bất kỳ con côn trùng nào cũng có thể ăn được.

Lấy ví dụ, chẳng ai có thể nghĩ là rận hay bọ chét có thể dùng được cho bất cứ chuyện gì, nhưng rận, được nghiền nhỏ và ăn cùng với ngũ cốc mùa đông, là một phương thuốc chữa động kinh, còn bọ chét thì là thuốc chữa tê cóng. Tất cả ấu trùng của côn trùng hoàn toàn có thể ăn được, nhưng phải ăn sống. Tra cứu các văn bản cổ, tôi tìm thấy những câu chuyện liên quan tới “các món đặc biệt” được làm từ giòi lấy từ nhà xí, còn mùi vị của con tằm quen thuộc được nhắc tới là thanh tao không gì sánh được. Ngay cả những con bướm đêm ăn cũng rất ngon nếu ta rũ hết phấn khỏi cánh của chúng trước.

Như vậy, dù từ quan điểm hương vị hay từ quan điểm sức khỏe, nhiều thứ mà con người coi là gớm ghiếc thực ra lại khá là ngon và tốt cho cơ thể con người.

Những loại rau nào mà về mặt sinh học gần nhất so với tổ tiên hoang dại của chúng thì sẽ có hương vị tuyệt nhất và có giá trị dinh dưỡng cao nhất. Ví dụ, trong họ huệ (gồm nira – tỏi tây, tỏi, tỏi Tàu, hành tăm, củ kiệu, và hành củ) thì nira và tỏi Tàu cho giá trị dinh dưỡng cao nhất, làm thảo dược tốt, và cũng có tác dụng như một loại thuốc bổ cho sức khỏe tổng quát. Tuy nhiên đối với phần lớn mọi người, các giống thuần hoá hơn chẳng hạn như hành tăm hay hành củ, lại được coi là có vị ngon nhất. Vì lý do nào đó, con người hiện đại thích hương vị các loại rau củ không còn ở trạng thái hoang dã ban đầu của chúng nữa.

Sở thích đối với các thực phẩm có nguồn gốc động vật cũng tương tự như vậy. Ăn vào người thịt chim hoang thì tốt cho cơ thể hơn là những con gia cầm thuần hoá, chẳng hạn như gà vịt, thế nhưng những con gia cầm này, nuôi ở trong một môi trường rời xa nơi sinh sống tự nhiên của chúng, lại được xem là có vị ngon và được bán với giá cao. Sữa dê có giá trị dinh dưỡng cao hơn sữa bò, nhưng chính sữa bò mới là loại sữa có nhu cầu sử dụng cao hơn.

Những loại thực phẩm đã xa rời trạng thái hoang dã của chúng và những loại được nuôi trồng bằng hóa chất hoặc trong môi trường được sắp đặt hoàn toàn dưới bàn tay con người sẽ làm mất cân bằng tiến trình hoá học bên trong cơ thể. Thể chất càng trở nên mất cân bằng, người ta lại càng trở nên ham muốn những loại thực phẩm phi tự nhiên. Tình trạng này rất nguy hại cho sức khỏe.

Nói rằng người ta ăn gì chỉ đơn thuần là chuyện sở thích cá nhân, như thế là đánh lạc hướng, bởi lẽ một chế độ ăn uống phi tự nhiên hay ngoại lai sẽ gây khó cho người nông dân và cả ngư dân nữa. Dường như người ta càng ham muốn nhiều thì người ta lại càng phải lao động nhiều hơn để thỏa mãn chúng. Một số loại cá, chẳng hạn như cá ngừ đại dương và cá cam nổi tiếng, phải đánh bắt xa bờ trong khi cá mòi, cá tráp, cá bơn và các loại cá nhỏ khác thì có thể đánh bắt với số lượng dồi dào ngay tại biển Nội Hải. Nói về mặt dinh dưỡng, những sinh vật sống ở sông suối nước ngọt, chẳng hạn như cá chép, ốc ao, tôm đồng, cua đầm lầy v.v. thì tốt hơn cho cơ thể so với những loài nước mặn. Tiếp đến là cá biển khu vực nước nông, và cuối cùng mới là cá biển sống ở khu vực nước sâu và xa bờ. Thực phẩm ở gần quanh là tốt nhất cho thể chất con người, còn những thứ mà con người phải vất vả mới có được lại chẳng có ích lợi gì mấy.

Điều đó nói lên rằng nếu người ta chấp nhận những gì gần tầm tay, thì mọi thứ sẽ tốt đẹp. Nếu nông dân sống trong làng này chỉ ăn những thực phẩm có thể trồng hoặc hái được tại chỗ thì sẽ không có chuyện gì sai lầm cả. Cuối cùng thì, giống như nhóm người trẻ tuổi sống trong những cái chòi trên khu vườn, người ta sẽ thấy đơn giản nhất là ăn gạo lứt và đại mạch, kê không đánh bóng, kiều mạch, cùng với các loại thảo mộc theo mùa và rau củ bán hoang dã. Đó là loại thức ăn tốt nhất, có hương vị và tốt cho cơ thể.

Nếu 22 giạ lúa gạo (600 ký) và 22 giạ ngũ cốc mùa đông thu hoạch được từ một nghìn mét vuông ruộng, như một trong những thửa ruộng ở đây, thì một thửa ruộng đó sẽ nuôi sống được từ năm đến mười người, mà mỗi người chỉ cần bỏ ra trung bình chưa đến một giờ làm việc mỗi ngày. Nhưng nếu ruộng đó biến thành đồng cỏ cho gia súc, hay nếu lượng ngũ cốc đó được đem cho gia súc ăn thì mỗi nghìn mét vuông đất chỉ nuôi sống được một người. Thịt trở thành một thứ thực phẩm xa xỉ khi việc sản xuất ra nó đòi hỏi phải chiếm diện tích đất mà lẽ ra có thể dùng để cung cấp thức ăn cho con người sử dụng trực tiếp được. Điều này đã được chứng minh một cách rõ ràng và rạch ròi. Mỗi người cần phải suy ngẫm một cách nghiêm túc xem mình đã gây ra bao khó khăn vất vả khi chạy theo những loại thực phẩm phải quá tốn kém mới sản xuất ra được.

Trích sách “Cuộc Cách Mạng Một – Cọng – Rơm”